| Tọa Mộ Sơn | 60 Thấu địa | 72 Xuyên Sơn Long | 120 Phân Kim | Tiên Mệnh | |||||
| Độ số | |||||||||
| Phân Kim | |||||||||
| Ngũ hành | |||||||||
1 Ví dụ về Lập hướng Âm trạch theo Phong thủy Khoa học An Khang Pháp.
Tọa Mộ thuộc Nhâm : 337, 5 đến 352,5 độ
– Xét 60 thấu địa : có giáp tý từ 337, 5 đến 343, 5 độ, ngũ hành thuộc Kim – – Phân Kim sai thác Không vong
+ Bính Tý : từ 343,5 đến 349, 5 độ, ngũ hành thuộc thủy – Phân kim Chính huyệt – Huyệt châu bảo , Mậu tý từ 349, 5 đến 355,5 độ – Huyệt hỏa Khanh ( thực tế ở tọa Nhâm – Phân Kim Mậu Tý chỉ từ 349,5 đến 352, 5 độ) : Ngũ hành thuộc Hỏa
– Xét 120 Phân Kim : Có ất hợi, đinh hợi, kỷ hợi, tân hợi, quý hợi.
+ Ât hợi từ 337,5 tới 340,5 độ : ngũ hành thuộc: Không kiêm được Phân kim xấu
+ Đinh Hợi từ 340,5 tới 343,5 độ : ngũ hành thuộc : Phân kim tướng
+ Kỷ hợi : từ 343,5 tới 346,5 độ : ngũ hành thuộc : Quy giáp không vong
+ Tân Hợi: từ 346, 5 đến 349, 5 độ : ngũ hành thuộc : Phân kim tướng
+ Qúy hơi từ 349,5 đến 352,5 độ : ngũ hành thuộc : Phân kim Cô hư
Vậy kết hợp cả 2 phương pháp phân kim ta lựa chọn : Phân kim huyệt được vào huyệt bảo châu, phân kim 120 phân kim vào độ số vượng tướng, thì cha chọn được phân kim Bính Tý của 60 thấu địa và Tân hợi ở 120 phân kim, giao giữa 2 đường này thì có độ số tọa là 346,5 tới 349,5 độ. Xét ngũ hành của Bính Tý 60 thấu địa là Thủy, của 120 phân kim tân hợi là Kim, vậy tọa mộ từ 346,5 đến 349,5 phù hợp với tiên mệnh có ngũ hành thuộc Thủy.
Vì cả 2 phương pháp: đều lấy phân kim tọa mộ ( 60 hay 120pk) sinh, tỉ hòa với ngũ hành tiên mệnh là tốt.
- Lại thêm điều kiện : Long tới hướng Bính là Long nhập thủ 1,2,6,8,9 lựa chọn đất đặt mộ cho Long tốt trước và phân kim trong 72 xuyên sơn của Lai Long này tới sinh cho huyệt 60 thấu địa hoặc 120 phân kim, nếu kết hợp cả 2 ta ưu tiên cho Long tới sinh và tỉ hòa với huyệt 60 PK ( vậy ta có thể phân kim Long tới có có ngũ hành là Thủy, hoặc Kim, Phân kim có thể sử dụng phương pháp nội phân kim : Phân kinh Tiểu – Quach trong quan tài vào 346,5 tới 349,5 , Hoặc ngoại phân kim là phân kim Nấm mồ đã đắp lên , hay cát táng ( đầu – tọa, chân – hướng). Lại thêm điều kiện Long tới Dương lập hướng Dương,( 24 sơn thì thiên can, tứ ngung là Long Dương, 12 địa chi là Long Âm), lại xét thêm điều kiện thủy lai tới hướng mộ được thủy pháp tốt.
Sau khi lọc ra Tọa mộ được phân kim huyệt bảo châu – Chính huyệt, phân kim 120 Vượng tướng lại được phân Kim 60 và 120 tương sinh hoặc tỉ hòa cùng nhau gồm các độ số Phân kim tọa sau:
Tọa Nhâm : 346, 5 – 349,5 độ ( 120 PK : Tân Hợi ngũ hành Kim , 60 thấu địa Bính Tý: Thủy) : Phù hợp với tiên mệnh Thủy. Chọn Long tới Thủy , hoặc Kim.
Tọa Nhâm Thì sẽ hướng Bính, vì vậy ta xét Long: tới đc 1,2,6,8,9 là: có các Lai Long Sửu, Ât, Thìn, Qúy, Tân, Tuất, Mùi, Đinh , Ngọ. tìm Pk trong 72 xuyên sơn lai long này có Pk 72 xuyên sơn là Thủy, hay Kim là ok nhất
Ta có Lai Long tới sại Sửu ,nếu vào PK 72 Xuyên sơn là 22,5 – 27,5 độ : Đinh sửu : Thủy cùng hành với PK 60 Thấu địa là quá tuyệt với thỏa mãn đk : Long tới sinh, tỉ hòa với huyệt
Rất khó để lập được như trên để hòa hợp để lập hướng hợp thiên, địa, nhân.
Tất cả cách xác định Long, Thủy, Huyệt và phân kim phù hợp đều được giới thiệu trong Khóa học Phong thủy Khoa học An Khang pháp.
Âm trạch nhiều con nhiều cháu thế thì biết phù hộ cảm ứng thương ai mà phù hộ ; thực tế mà nói cs thực tế như bản thân chúng ta như đời Ông cố ( tức bố của ông nội ) mất thì sự tiếc thương cũng ko bằng ông nội ; ông nội mất thì sự tiếc thương đau xót ko bằng bố ; cũng như vậy sự cảm ứng sự phù hộ càng gần thế hệ ta càng ảnh hưởng ; xa từ 3 đời từ đời ông cố trở lên – gọi là mộ tổ thì ko có sự ảnh hưởng nữa ; cũng như nếu ko có gia phả ghi chép lại thì may ra ta biết và nhớ tới tên được ông cố ; còn ông – Bố của ông cố thì thậm chí ko biết tên là gì ; ở đâu … vv
vả lại sự thân thiết máu mủ , tình cảm -gần gũi nhất là tình phụ tử ; cha mẹ !
nếu Mộ ông nội thì cùng lắm phù hộ tới đời con ruột của ông nội ; cảm ứng như vậy – và chả lẽ thương ai khi còn sống thì phù hộ cho người đó ( thậm chí nhiều người cha mẹ còn sống ; lúc còn sống thì hay bảo hay thing thoảng bảo tao chết – tao về phù hộ cho nhà bay làm ăn cho tốt … vv ); nhưng thực tế thì mộ huyệt có đặt được cho đúng cho người chết được an nghỉ được hoà hợp ; được hỗ trợ mà xương cốt còn nguyên vẹn hay ko ; còn linh khí – phách hồn để hỗ trợ cho người sống hay ko; có được ngoại khí : Long ; Huyệt ; Sa , triều , án , thuỷ ; hướng hỗ trợ để tìm đến đường về mà hỗ trợ và cảm ứng cho ng sống hay ko !
Long – đến như mạch khí cho Xương cốt được nuôi dưỡng như thức ăn tới nuôi dưỡng cho con người ; như thận khí từ gốc mà dẫn khí lưu thông huyết tới các đường mao mạch mà nuôi cơ thể , chọn đúng đường tụ khí như chọn cái chỗ thận trong tổng thể cơ thể người để tụ được nhiều khí dẫn đi !
Huyệt – Mộ : như cái bọc cái bình để bảo vệ cái xương cái cốt của phần xác ! như lớp áo của con người!
Thuỷ – tới để tưới tắm sự mát rượi ; độ ẩm , khí trong lòng đất chiếm 25% hỗ trợ độ ẩm để tắm gội cho xương cốt ; như người soong cần uống, cần tắm gội vậy – mang tới tinh thần sảng khoái!
Sơn , án , triều như lớp áo ngoài bông bảo vệ huyệt ; như mùa đông thì mặc thêm áo ấm ; như mùa hè thì như lớp chân lông bảo vệ da ; giữ nhiệt vào mùa đông và thoát bớt khí nóng vào mùa hạ ; vì tính chất của không khí di từ nơi lạnh tới nơi nóng ; Sơn sa nói tóm lại như cái vỏ bọc để tích trữ khí của Long và nước của thuỷ đến ko giảm đi đột ngột cũng ko tăng đột ngột. Như lá phổi !
– Phân Kim Hướng giống như cái miệng – lựa chọn miệng để ăn thức ăn ; để cảm nhận thức ăn ; như cái mũi để hít thở vậy; và lập hướng để người mất còn có chỗ để hướng về như tâm tư suy nghĩ như con đường của họ đi trên suối vàng vậy ; có hướng để biết về đâu mà phù hộ mà cúng bái !
; từ đó mà hình thành nên việc lựa chọn ( LONG – HUYỆT – THUỶ- SA – HƯỚNG ĐỂ chọn âm trạch nhằm tạo nên sự cảm ứng cho người mất nằm dưới huyệt được giữ lâu và hướng về phù hộ người mất )
nên: sự cảm ứng gần nhất là bố mẹ ; sau mới tới ông bà ! bên nào thì ảnh hưởng tới bên đó ; như bố mẹ vợ sự ảnh hưởng phù hộ cho con rể ít hơn phù hộ cho con gái vậy !
