ỨNG DỤNG ĐÔNG Y TRONG PHONG THỦY KHOA HỌC VÀ ĐỜI SỐNG

Tháng 6 24, 2026

– Ứng dụng trong đông y và Phong thủy, đời sống đa dạng cũng như quy luật của vũ trụ, đời sống xã hội. Trong An Khang Pháp phong thủy có ứng dụng Phong thủy Địa lý ( Vị trí, thời gian) kết hợp Đông y trong hỗ trợ chữa bệnh bằng Phong thủy – Đông Y. Trước tiên chúng ta tìm hiểu về các tác nhân gây bệnh ( Tất cả mọi nguyên nhân gây bệnh đều do mất cân bằng âm dương mà hình thành trong cơ thể con người và trong mất cân bằng âm dương trong Môi trường địa lý – Phong thủy

):

– Mùa xuân, mùa hạ thuộc dương, cho nên sinh trưởng; mùa thu, mùa đông thuộc âm, cho nên thu tàng”.Xuân, hạ dương khí mạnh – Dưỡng dương.

– Dương hóa khí, âm thành hình: Khí ở đây là chỉ về năng lượng hình ở đây là chi về vật chất. Âm tĩnh cho nên là trấn thủ của dương” “Dương động cho nên là sứ dịch của âm”.

  • Dương phát ra chính khí thì vạn vật mới sinh, âm làm chủ trì mới thành hình thể”.

Âm dương là quy luật chung của vũ trụ, là cương kỷ của mọi sự vật, khởi đầu của sự biến hóa vạn vật, gốc rễ của sự sinh trưởng hủy diệt chỗ phát nguyên tất thảy hình tượng phơi bày. Thày thuốc chữa bệnh cần phải tìm được nguồn gốc biến hóa của bệnh tình, mà cái đạo lý cũng không ra ngoài âm dương. Trong sự biến hóa của vũ trụ thì khí thanh dương tụ ở phần trên mà thành ra trời, khí trọc âm chứa ở phần dưới mà thành ra đất. Âm là tương đối tỉnh, đương là tương đối động; dương chù sinh phát, âm chủ trưởng thành; dương chủ về thu sát, âm chủ về tàng trữ. Dương có thể hóa ra năng lượng âm có thể hợp thành hình thể.

– Hàn đến cực điểm sẽ sinh ra nhiệt, nhiệt đến cực điểm sẽ sinh ra hàn. Hàn khí cơ thể sinh ra trọc âm, nhiệt khí cơ thể sinh ra thanh dương; nếu khí thanh dương ở dưới mà không đi lên thì sẽ sinh ra bệnh tiết tả, khí trọc âm ở trên mà không đi xuống thì sẽ sinh ra bệnh đầy trướng. Đó chính là sự biến hóa chính thường và trái bình thường của âm dương.

  • Âm dương là quy luật của trời đất tuy không thấy được. Nhưng chúng ta có thể hiểu được  thông qua sự hình hiện của thủy, hỏa, khí, huyết. Trong đó hỏa, khí thuộc dương, thủy huyết thuộc âm. “Toàn bộ nhân thể người ta không ra ngoài 2 chữ âm dương; mà âm dương tức là thủy hỏa; mà thủy hỏa tức là khí huyết”.

Co’ dương khí thì vạn vật mới co’ thể sinh trưởng, co’ âm khí thỉ vạn vật mới có thể hình thành. Cho nên vạn vật sinh ra là do ở khi ấm áp của mùa xuân, vạn vật lớn mạnh là do ỏ khi no’ng bôc của mùa hạ, vạn vật thu thành là do ở khí mát mẻ của mùa thu, vạn vật bế tàng là do ở khí lạnh giá của mùa đông.

Hay trong vật lý , các chất rắn, lỏng, khí nở ra khi nóng lên( Nóng = dương), co lại thu lại khi lạnh đi ( hàn – lạnh – là âm).

Đông bệnh tại âm, xuân bệnh tại âm: : “Đông bệnh tại âm là bệnh ở thận; xuân bệnh tại âm là bệnh ở can”. Can thận đều là tạng âm, đều ở hạ tiêu; bệnh vê mùa đông thì ở thận, bệnh về mùa xuân thì ở can, cho nên nói: “đông bệnh tại âm” “xuân bệnh tại âm”.

Hạ bệnh tại dương, thu bệnh tại dương, Hạ bệnh tại dương là bệnh ở tâm, thu bệnh tại dương là bệnh ở phế”. Vi tâm phế là tạng dương đều ở thượng tiêu.

Trong âm có âm, trong dương có dương; ví như: Trong một ngày thì ban ngày là dương, ban đêm là âm; sáng sớm đến giữa trưa là dương ở trong dương, giữa trưa đến hoàng hôn là âm ở trong dương, hoàng hôn đến gà gáy là âm ở trong âm, gà gáy đến sớm mai là dương ở trong âm. Cho nên người ta cũng như thế. Ví dụ: lấy nhân thể mà chia ra âm dương, thì bên ngoài là biểu là dương, bên trong là lý là ầm; lấy thân mình mà chia ra âm dương thì lưng là dương ( nên các hướng bàn thờ, bếp khi đứng thì hướng là lưng người nấu, người đứng thắp hương là vậy) bụng là âm; lấy tạng phủ mà chia thi tâm, can, tỳ, phế, thận :ngủ tạng đều thuộc về âm; đờm, vị, đại trường, tiểu trường, bàng quang, tam tiêu lục: phủ đều thuộc về dương.

Nên biết ràng cái lẽ âm ở trong âm, dương ở trong dương là vì bệnh về mùa đông thì ở âm, bệnh về mùa hạ thì ở dương, bệnh về mùa xuân thì ở tâm, bệnh về mùa thu thì ở dương, đều phải xem xét bệnh ở chỗ nào để tiến hành chữa châm cứu.

âm tháng thì dương bị bệnh tức là âm khi thiên tháng thì dương khí tất nhiên bị bệnh suy kém Trái lại dương tháng tác âm bệnh.

– Âm dương của người ta là cân bàng tương đối nhau, nếu âm khí trội hơn thì dương khí tất nhiên bị bệnh; dương khí trội hơn thì âm khí tất nhiên bị bệnh

Âm thắng dương thì biểu hiện chứng trạng thuộc hàn, dương thắng âm thì biểu hiện chương trạng thuộc nhiệt. Hàn đến cực độ sẽ biểu hiện ra hiện tượng nhiệt, nhiệt đến cực độ sẽ biểu hiện ra hiện tượng hàn.

Khí hậu biến hóa lạnh nóng thay đổi nhau trong 4 mùa đều do âm cùng tột thì nhất định biến ra dương, dương cùng tột rồi biến ra âm. Nói chung âm thì hàn, dương thì nhiệt. Nhưng hàn quá mức thì sinh ra nhiệt, nhiệt quá mức thì sinh ra hàn.

Vì thế có thể nói: Hàn có thể sinh nhiệt, nhiệt có thể sinh hàn. đó là đạo lý biến hóa của âm dương. Ví dụ trong thời tiết nắng lắm sẽ mưa nhiều, nếu thời tiết đầu năm nóng nắt gắt hơn bình thường thì dự đoán cuối năm sẽ có nhiều cơn bão, lũ lụt như năm 2024 đã xảy ra như đầu năm rất nóng, cuối năm lụt lội các tỉnh miền bắc : bão lagi…. Cần đề phòng.

Dương khí thái quá thì thân thể phát nóng, suyễn thở to xốc lên, không có mồ hôi, phát nóng, răng khô ráo, lòng phiền muộn, nếu thấy bụng đầy trướng là chứng chết. Đó là bệnh dương thắng ( nhiệt cực sinh hàn) cho nên chịu đựng được với mùa đông mà không chịu đựng được mùa hạ. Âm khí thắng thì thân thể rét mà ra nhiều mồ hôi hoặc thân thể mát lạnh mà bất thường lại sinh ra rét run, thậm chí tay chân quyết nghich. nếu thấy tay chân quyết nghịch mà bụng đầy trướng là chứng chết. Đó là thuộc về bệnh âm thắng ( hàn cực sinh nhiệt), cho nên chịu đựng được với mùa hạ mà không chịu đựng với mùa đông. Như vậy là lẽ âm dương biến hóa thắng thua lẫn nhau mà biểu hiện ở phương diện bệnh tình.

Bệnh tật là biểu hiện của sự mất cân bằng âm dương trong cơ thể. Sự thiếu lệch có thể do một bên quá mạnh, thừa ứ (thiên thịnh) hoặc do một bên quá yếu, thiếu hụt (thiên suy). Hư thì bổ, thực thì tả.

Trái đất quy nạp thành 5 nguyên tố, vật chất chính là : kim ,mộc ,thuỷ ,hoả ,thổ  và đem các hiện tượng trong thiên nhiên và trong cơ thể con người xếp theo 5 loại vật chất trên gọi là ngũ hành. Ngũ hành còn có ý nghĩa nữa là sự vận động, chuyển hoá của các chất trong thiên nhiên và của tạng phủ trong cơ thể.

– Âm vị: vị là ngũ vị: Cay, chua, đắng, ngọt, mặn; nhân vị hậu mà tràm giáng, thuộc âm, cho nên gọi âm vị. khí vị cay, ngọt, mà co’ công dụng phát tán là thuộc dương, khí vị chua, đáng mà có công dụng dũng tiết là thuộc âm.

Dương khí: Khí là 5 khí: Khét, thơm, tanh, thối, hôi. Do khí bạc bốc lên thuộc dương cho nên gọi khí.

– Vị: Ngũ vị là chua đắng ngọt cay mặn: “Khí vô hinh mà đi lên cho nên thuộc dương, vị có chất mà đi xuống cho nên thuộc âm. Đây là lấy khí vị của vị thuốc và đồ ăn mà nói”.

– Ngũ khí là khí của 5 tạng, do 5 khí mà sinh ra 5 chí, tức là: mùng, giận, buồn, lo, sợ. Khí của 5 tạng hóa sinh ra 5 chí: Tâm chủ mừng, can chủ giận, tỳ chủ buồn, phê’ chủ lo, thận chủ sợ. Có 5 hành: mộc, hỏa, kim, thổ, thủy.

xuân mộc, hạ hỏa trưởng hạ thổ, thu kim, đông thủy và lấy 5 tạng phối hợp với ngũ hành tức là: can mộc, tâm hỏa, tỳ thổ, phế kim, thận thủy, đem khí của ngũ hành của 4 mùa, gọi tên ngũ tạng như xuân mộc đại biểu cho can, hạ hỏa đại biểu cho tâm v.v

Tám thứ gió ( Bát phong trong Phong thủy xin mời đọc bài viết của An Khang) là khí hậu trái thường của giới tự nhiên, cũng tức là nhân tố gây ra bệnh, ảnh hưởng đến kinh mạch của cơ thê’ mà sinh ra 5 bệnh phong tổn hại cho 5 tạng; tà khí mà phát ra bệnh là do được cái thắng khí của 4 mùa mà khác cái kém hơn nó. Ví dụ như mùa xuân thắng mùa trưởng hạ, trưởng hạ tháng đông, đông tháng hạ, hạ thắng thu, thu thắng xuân. Đó là ngũ hành lấy mùa tháng nhau đều nhận thời lệnh tiết khí phát sinh ảnh hưởng đối với các tạng.

Cho nên nói , nếu tiết khí mùa xuân , thì xuân thắng trưởng hạ; lấy khí hậu mà nói là mùa trưởng hạ lại được khí hậu của mùa xuân, lấy ảnh hưởng đối với cơ thể mà nói, là can mộc được thắng khí hỗ trợ mà khắc hai tỳ thổ. Trưởng hạ thắng đông là mùa đông lại được khí hậu của mùa hạ, sẽ làm cho tỳ thổ của người ta được tháng khí hỗ trợ mà khác hại thận thủy. Đông thắng hạ là mùa hạ mà lại được khí hậu mùa đông, làm cho thận thủy được tháng khí hỗ trợ mà khắc tâm hỏa. Hạ tháng thu là mùa thu mà lại được khí hậu mùa hạ làm cho tâm hỏa được thắng khí giúp đỡ mà lại khác phế kim. Thu tháng xuân là mùa xuân mà lại được khí hậu của mùa thu, làm cho phế kim được tháng khí giúp đỡ mà khác hại can mộc. Gọi là: “được thắng khí của 4 mùa”.

– Có nghĩa là như mùa đông lại được ăn gió khí thời tiết như mùa hạ

( những ngày nắng nóng mùa đông ) thì làm cho Khí của Tỳ – Thổ – mùa trưởng hạ được thắng khí , vượng lên mà khắc hại Thận – Thủy ( Thận – thủy đại biểu cho khí mùa đông)  ( Thận – thủy ( vì thủy khắc thủy); Trưởng hạ – thuộc Thổ: Giữa khoảng mùa hạ với mùa thu gọi là trưởng hạ (khoảng tháng 6 âm lịch).

Khí âm dương của trời đất tương thông với nhau sản sinh ra ngũ hành: mộc, hỏa, thổ, kim, thủy ( ngũ vận ) và ba khí âm, ba khí dương. Trên trời chúng biểu hiện thành ba khí dương là : phong, thủy, hỏa và 3 khí âm: táo, hàn, thấp ( lục khí).

Nguyên tắc chữa bệnh :Con hư thì bổ mẹ, mẹ thực thì tả con.

Dựa vào quan hệ ngũ hành sinh khắc Ví dụ: chứng Phế hư (lao phổi, tâm phế mạn), pháp chữa là bổ tỳ vì tạng tỳ là mẹ của tạng phế. – Con hư thì bổ mẹ ! ( con hư thì bảo mẹ ) cái này là chữa bệnh từ gốc !còn mẹ thực thì tả con tức hành mẹ khoẻ quá vượng quá ; thì phải tìm cách làm tiết hao , làm giảm ở hành con( cái này giống trị bệnh ở ngọn ) – Dựa vào quan hệ ngũ hành tương thừa, tương vũ.- Tương thừa-. Bệnh do tạng khắc quá mạnh mà gây bệnh cho tạng bị khắc

Nguyên tắc chữa bệnh là lập lại thế quân bình âm dương.- Nếu thiên thịnh (thực chứng) phải dùng phép tả để loại bỏ phần thắng thịnh.- Nếu thiên suy (hư chứng) phải dùng phép bổ để bù đắp vào chỗ thiếu hụt.Hư thì bổ, thực thì tả.

Nộ thương can (giận dữ tổn hại can)- Hỷ thương tâm (vui mừng thái quá hại tâm)- Bi thương phế (buồn quá hại phế)- Ưu tư thương tỳ (lo nghĩ nhiều hại tỳ)- Kinh khủng thương thận (sợ hãi quá hại thận).cũng theo bảng ngũ hành tương ứng : vì giận dữ – ngũ hành thuộc Mộc ; can cũng Mộc mà giận giữ quá ko tốt sẽ hại gan !; sợ quá hại thận – giống như sợ vãi cả nước tiểu ra – tức là theo ngũ hành.

Nhìn màu sắc da: da xanh liên quan đến can, huyết ( vì xanh là mộc , mà can cũng là mộc ; huyết là hoả : được mộc sinh cho )- Da sạm đen liên quan đến thận- Da vàng hên quan đến bệnh của tạng tỳ ( vàng – tỳ đều thuộc thổ) – Do đỏ hồng liên quan đến tâm, hoả nhiệttóm lại là biểu hiện bệnh có thể thông qua da để phán đoán theo ngũ hành tương ứng của màu sắc da và ngũ tạng.

Hư” trong Đông y chỉ tình trạng suy yếu, thiếu hụt, không đủ sức của cơ thể. Nó có thể là hư của khí, huyết, âm, dương hoặc của các tạng phủ. Người bệnh có thể cảm thấy mệt mỏi, xanh xao, hơi thở ngắn, ít nói, sợ lạnh, dễ bị cảm cúm, v.v.

Thực :”Thực” chỉ tình trạng bệnh lý do tà khí mạnh, dư thừa, hoặc sự mất cân bằng giữa chính khí và tà khí. Biểu hiện có thể là sốt cao, đau dữ dội, đầy bụng, bí tiểu, tiêu chảy, Tả” là một phương pháp điều trị trong Đông y, nhằm mục đích loại bỏ tà khí, làm giảm bớt những gì dư thừa trong cơ thể. Có nhiều phương pháp tả như dùng thuốc, châm cứu, xoa bóp, hoặc các kỹ thuật khác để loại bỏ yếu tố gây bệnh.

Tả” là một phương pháp điều trị trong Đông y, nhằm mục đích loại bỏ tà khí, làm giảm bớt những gì dư thừa trong cơ thể. Có nhiều phương pháp tả như dùng thuốc, châm cứu, xoa bóp, hoặc các kỹ thuật khác để loại bỏ yếu tố gây bệnh.

Bổ :”Bổ” là một phương pháp điều trị trong Đông y, nhằm mục đích tăng cường chính khí, bồi bổ cơ thể, làm cho cơ thể khỏe mạnh hơn. Có thể là bổ khí, bổ huyết, bổ âm, bổ dương, hoặc bổ các tạng phủ tùy thuộc vào tình trạng bệnh.

Nguyên tắc điều trị:Nguyên tắc cơ bản trong Đông y là “hư thì bổ, thực thì tả” (tức là nếu cơ thể suy yếu thì bổ, nếu tà khí mạnh thì tả). Bên cạnh đó, còn có các nguyên tắc khác như “hàn thì cứu, nhiệt thì châm……….Tùy thuộc vào tình trạng bệnh cụ thể, thầy thuốc sẽ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Ví dụ, nếu một người bị suy nhược do thiếu máu, bác sĩ Đông y có thể kê đơn thuốc bổ máu, kết hợp với các bài châm cứu hoặc xoa bóp để tăng cường khí huyết. Ngược lại, nếu một người bị sốt cao do nhiễm trùng, bác sĩ có thể kê đơn thuốc tả nhiệt, kết hợp với các phương pháp như châm cứu để hạ số.

– Tóm lại ; thực là hành đó mạnh quá như ăn nhiều quá , thịnh quá ; hư là hành đó yếu quá ; suy nhược quá ! thực thì tả : tức là tìm cách làm giảm bớt đi ; hạn chế đi ; Hư thì bổ tức là tìm cách làm nó mạnh lên ; tăng lên ; bồi bổ cho hành đó mạnh lên ( có phải là dung hanh tương sinh và chính hành đó ?)

Tương vũ là phản đôì, chống lại. Trường hợp hành khắc quá yếu, không kiềm chế được hành bị khắc để hành này phản vũ lại, gây bệnh cho hành khắc.Ví dụ: Bình thường tỳ thổ khắc thận thuỷ. Trường hợp tỳ thổ bị suy yếu, thận thuỷ sẽ phản vũ lại. Trường hợp này gặp trong phù do suy dinh dưỡng (Do thiếu ăn và bệnh đường tiêu hoá mạn tính không hấp thu được dinh dưổng).- Giống đã yếu mà hay ra gió – tức đi gây gỗ đánh nhau ; nhưng ko đánh đc người bị người ta đánh cho thâm mặt mũi

Chẩn bệnh Tìm căn nguyên bệnh: Triêụ chứng bệnh thể hiện ra chủ yếu ở một tạng, “nhưng nguyên nhân có thể do các tạng khác gây ra.

– Chính tà: Nguyên nhân chính do tại tạng đó. Ví như chứng mất ngủ do Tâm huyết hư, Tâm hoả vượng.- mất ngủ : Tâm huyết hư ( tâm khai khiếu ra mắt ) – tại Tạng đó ( yếu quá hoặc vượng quá ).quy luật chính thể đương nhiên !  do mình!

– Hư tà: Nguyên nhân từ tạng mẹ đưa đến. Ví như chứng nhức đầu choáng váng do Can hoả vượng. Nguyên nhân do Thận âm hư nên phải bổ thận và bình can. ( thận – thuỷ – sinh cho Can Mộc ; mà sinh cho nhiều quá làm hành được sinh ra quá vượng  thì nó tiết hao đi ( gọi là như lính cảm tử hết mình vì con đây – chăm con); vậy phải bổ hành mẹ ( hành mẹ hư ) ; và bình hành con ( hành con vượng)  ! gọi là Hư tà! ( ql tương sinh ).

– Thực tà: nguyên nhân từ tạng con. Ví như chứng khó thở, triệu chứng bệnh ở tạng phế. Nếu khó thở do phù nề, nguyên nhân từ tạng thận. Phép chữa phải tả thận (lợi tiểu) bình suyễn. Phế – hành mẹ Kim ; phù nề lên ( có thể là khí ko thông chăng ?; hành con là Thận – Thuỷ ; vậy phải tả thận ( QL phản sinh )

– Vi tà: Nguyên nhân từ tạng khắc. Ví dụ chúng đau thượng vị (viêm loét dạ dày) do can khí phạm vị. Phép chữa phải là sơ can hoà vị. TỲ – THỔ ; Can – Mộc ; Mộc khắc thổ – can khắc tỳ – Vi tà ( do hành mạnh hơn tới khắc nó mà nó bị đau ) – QL tương khắc ngũ hành !

Tặc tà: Nguyên nhân từ hành bị khắc. Ví dụ chứng phù dinh dưỡng, thận thuỷ áp đảo lại tạng tỳ gây phù. Phép chữa phải tả thận bổ tỳ. thận – thuỷ ; tỳ – thổ ; KIM – MỘC – THỔ – THUỶ – HOẢ ; bình thường thì thổ khắc thuỷ ; nhưng thổ yếu quá – thuỷ mạnh quá ko khắc đc mà ngươic lại bị nó làm hại ( Quy luật phản khắc , chống lại ) vậy phải tả hành bị khắc ; bổ hành được khắc gọi là vi tà !

chữ “tà” được hiểu là tà khí, hay còn gọi là yếu tố gây bệnh từ bên ngoài. Nó là một khái niệm chỉ các tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể, làm rối loạn sự cân bằng âm dương và gây ra bệnh tật. Tà khí có thể là: Phong tà (gió): Gây ra các bệnh như cảm cúm, nhức đầu, đau mình mẩy. Hàn tà (lạnh): Gây ra các bệnh như cảm lạnh, đau nhức xương khớp. Thử tà (nắng nóng): Gây ra các bệnh như say nắng, sốt cao. Thấp tà (ẩm thấp): Gây ra các bệnh như phù nề, đau nhức xương khớp. Táo tà (khô): Gây ra các bệnh như khô da, táo bón. Hỏa tà (nóng): Gây ra các bệnh như viêm nhiễm, sốt cao.

Tiết chế, dinh dưỡng- Trong ăn uống không nên dùng nhiều và kéo dài một loại, nên ăn tạp và thay đổi thức ăn vì:

+ Ngọt nhiều quá sẽ hại tỳ

+ Mặn nhiều quá sẽ hại thận

+ Cay nhiều qúá sẽ hại phế

+ Đắng nhiều quá sẽ hại tâm

+ Chua nhiều quá sẽ hại can.

Khi bị bệnh, cần kiêng khem những thứ có cùng vị liên quan ngũ hành với tạng bệnh.

+ Bệnh thận không nên ăn nhiều muối mặn

+ Bệnh phế cần kiêng cay như tiêu, ớt, rượu

+ Bệnh về tiêu hoá nên kiêng ăn ngọt béo nhiều…