Xét đến cùng, bệnh tật phát sinh là do tính cân bằng tương đối của âm dương bị phá hoại. Âm thịnh thì dương bị bệnh; dương thịnh thì âm bị bệnh; âm hư thì nhiệt, dương hư thì hàn. Chữa bệnh bằng ăn uống mục đích khôi phục sự cân bằng tương đối của âm dương trong cơ thể. Dương nhiệt quá thịnh dễ phát sinh bệnh chứng âm dịch thương tổn, dùng phép thanh nhiệt bảo tân (Ngũ trấp ẩm, cháo rau cần, cháo đậu xanh) để tả dương hòa âm. Dương hư không chế ước được âm, phát sinh chứng bệnh âm hàn thiên thịnh, dùng phép ôn kinh tán hàn (Đương quy sinh khương dương nhục thang, Hồ đào nhân xào cửu thái dương nhục…) để bổ dương chế âm. Có nghĩa phối hợp dược vật và thực phẩm hợp lý để bảo vệ sức khỏe.
Ăn uống để điều hòa tạng phủ
Mỗi tạng phủ đều có mối liên quan đến khí vị nhất định. Khí là 4 tính chất của thuốc và thực phẩm mà người dùng cảm nhận được: hàn (lạnh), lương (mát), nhiệt (nóng), ôn (ấm). Một số thực phẩm có tính chất hòa hoãn gọi là bình. Quy nạp tứ khí vào âm dương: hàn, lương thuộc âm; ôn, nhiệt thuộc dương. Vị là 5 mùi vị của thuốc và thực phẩm mà vị giác người dùng cảm nhận được: tân (cay), cam (ngọt), toan (chua), khổ (đắng), hàm (mặn). Ngoài ra còn có vị nhạt (đạm), do đó dược liệu có đến 6 vị (lục vị).
Người dương thịnh, âm hư: Biểu hiện người gầy, họng lưỡi khô, ù tai hay quên, mất ngủ. Dùng thực phẩm dưỡng âm, mát: đậu đũa, hoàng tinh, thịt ba ba, củ mài, canh ngân nhĩ, cháo đậu xị. Hạn chế thực phẩm ôn, nhiệt, bổ dương.
Người dương hư âm thịnh: Biểu hiện chân tay lạnh, tiểu tiện nhiều lần, đau lưng mỏi gối. Dùng thực phẩm bổ dương, ấm: chim sẻ, uống rượu pha huyết chim sẻ, thịt dê, canh thịt dê,… Hạn chế thực phẩm hàn, lương và thương dương.
Người khí hư (suy nhược): Biểu hiện sắc mặt trắng nhợt, thở yếu, ngại nói. Dùng thức ăn bổ khí: củ mài, sữa đậu nành, sữa bò, trứng gà, cháo nhân sâm, bánh ích tỳ…
Người huyết hư (thiếu máu): Biểu hiện môi nhạt, chóng mặt, phụ nữ rối loạn kinh nguyệt. Dùng thức ăn bổ huyết: quả dâu, cà rốt, gan động vật, cao ngọc linh, bài thuốc Đương quy sinh khương dương nhục thang.
Toàn bộ nhân thể người ta không ra ngoài 2 chữ âm dương; mà âm dương tức là thủy hỏa; mà thủy hỏa tức là khí huyết”
Đông bệnh tại âm, xuân bệnh tại âm: “Đông bệnh tại âm là bệnh ở thận; xuân bệnh tại âm là bệnh ở can”. Can thận đều là tạng âm, đêu ở hạ tiêu; bệnh về mùa đông thì ở thận, bệnh về mùa xuân thì ở can, cho nên nói: “đông bệnh tại âm” “xuân bệnh tại âm”.
Hạ bệnh tại dương, thu bệnh tại dương. “Hạ bệnh tại dương là bệnh ở tâm, thu bệnh tại dương là bệnh ở phẽ”. Vì tâm phế là tạng dương đều ở thượng tiêu.
âm dương của người ta là cân bàng tương đối nhau, nếu âm khi trội hơn thi dương khi tát nhiên bị bệnh; dương khi trội hơn thi âm khỉ tẵt nhiên bị bệnh
Ám tháng dương thì biểu hiện chủng trạng thuộc hàn, dương tháng âm thì biểu hiện chương trạng thuộc nhiệt. Hàn đến cực độ sẽ biểu hiện ra hiện tượng nhiệt, nhiệt đến cực độ sẽ biểu hiện ra hiện tượng hàn.
Khí hậu biến hóa lạnh nóng thay đổi nhau trong 4 mùa đều do âm cùng tột thì nhất định biến ra dương, dương cùng tột rồi biến ra âm. Nói chung âm thì hàn, dương thì nhiệt. Nhưng hàn quá mức thì sinh ra nhiệt, nhiệt quá mức thì sinh ra hàn. Vi thế có thể nói: Hàn có thể sinh nhiệt, nhiệt có thể sinh hàn. Dó là đạo lý biến hóa của âm dương.
Dương khí thái quá thì thân thể phát nóng, tấu lý đóng kín, suyễn thở
to xốc lên, không có mồ hôi, phát nóng, răng khô ráo, lòng phiền muộn, nếu thấy bụng đày trướng là chứng chết. Đđ là bệnh dương tháng cho nên chịu đựng được với mùa đông mà không chịu đựng được mùa hạ. Ám khí tháng thì thân thể rét mà ra nhiêu mò hôi hoặc thân thể mát lạnh mà bất thường lại sinh ra rét run, thậm chí tay chân quyết nghich. nếu thấy tay chân quyết nghịch mà bụng đày trướng là chứng chet. Dó là thuộc vê bệnh ảm tháng, cho nên chịu đựng được với mùa hạ mà không chịu đựng với mùa đông. Như vậy là lẽ âm dương biến hóa thắng thua lẫn nhau mà biểu hiện ở phương diện bệnh tinh.
Can chủ cân, tâm chủ mạch, tỳ chủ nhục, phế chù bì mao, thận chủ cốt.
Khí của 5 tạng hóa sinh ra 5 chí: Tâm chủ mìlng, can chủ giận, tỳ chủ buồn, phế chủ lo, thận chủ sợ.
Giận có thể hại can, nhưng buồn thương cơ thể ức chế giận; phong khí có thể hại gân, nhưng táo khí có thể ức chế phong khí, ăn nhiêu vị chua quá có thể hại gân, nhưng vị cay có thể ức chế vị chua.
Nhiệt có thể hại khí, nhưng hàn khí có thể ức chê nhiệt, vị đáng có thể hại khí, nhưng vị mặn có thể ủc chế vị đáng.
