Tiêu sa và bạt sa
“Tiêu” là thuật ngữ chuyên ngành chỉ việc giảm thiểu hay làm suy yếu mức độ sát của sa hung. Ví dụ như một khu huyệt địa tốt, bất luận là nhìn từ phương vị nào thì hình thế phong thủy của khu đó cũng đều rất tốt. Nhưng nếu như một phương nào đó quá cao, hình thành nên không gian có cảm giác bức bách như kiểu khách phản chủ sẽ khiến cho khu đất đó không còn hài hòa nữa, loại hiện tượng không tốt này tự nhiên sẽ hình thành “sát”. Gặp sát thì phải hóa giải, tiêu trừ nó, hoặc là bạt sang một hướng mới, nhằm tránh hung hướng cát. Nhưng phàm là một khu phong thủy thì nói chung đều không được thập toàn thập mỹ, gặp một phương vị nào đó không lý tưởng thì cần phải tìm cách để tiêu đi, bạt đi để đạt được mục đích tránh hung hướng cát, gặp hung hóa cát. Tóm lại, “tiêu” chính là tiêu đi sát khí, “bạt” là bạt động phân kim để nhằm tránh hung hướng cát.
Phán đoản cát hung của sa
Sa ở phương cát phải cao lớn mới là cát lợi, còn sa ở phương hung mà cao lớn lại là không tốt. Sa ở phương hung nên thấp bé mới là cát lợi, còn nếu sa ở phương cát lại thấp bé cũng không tốt. Thông thường, các nhà phong thủy đều dựa vào hình trạng, vị trí, hướng bội, xa gần, lởn nhỏ của sa để xác định cát hung. Lấy hướng vào trong ôm ấp lấy huyệt, ở xa thì to lớn hùng vĩ là cát lợi; lấy hình thế như cung tên bắn vào trong, quá sát bức huyệt là hung. Tốt nhất là cao mà không bức, to mà không dối chủ là cát lợi.
Sa cát
o Tứ thần toàn: Càn, Khôn, Cấn, Tốn là phương vị của tứ thần, đều có loan phong chủ quý, thiếu đi 1 nhân tố thì phúc lực giảm đáng kể.
o Tứ thế cao: Dần, Thân, Tỵ, Hợi là tứ thế. Dần là Vĩ hỏa Hổ, Thân là Chủy hỏa Hầu, Tỵ là Dực hỏa Xà, Hợi là Thất hỏa Chư, đó là tên sao trong Nhị thập bát tú. Nếu tứ phương đều có loan phong khởi lên cao thì được gọi là Tứ thế cao, gặp được như vậy là chỗ phú quý.
o Bát tướng vị: Cấn, Bính, Tốn, Tân, Đoài, Đinh, Chấn, Canh được gọi là Bát tướng. Sa ở tám phương này cùng khởi lên ngang nhau thì đó là chỗ đại quý.
o Nhật nguyệt minh: Đó là chỉ phương vị Nam Bắc, Ly là mặt trời phương Nam, Khảm là mặt trăng phương Bắc, hai phương này có loan phong đối xứng nhau nên mới gọi là nhật nguyệt minh cư. Đó là cách cục chủ quý, nếu chỉ mình phương Ly có phong mà phương Khảm lại không thì không tốt, nếu gặp phương Tý đến chầu cũng là tượng đại cát.
Tam dương khởi: Tốn, Bính, Đinh được gọi là tam dương. 3 phương này có loan phong đẹp thì đó là quý địa.
Lộc mã tụ: Cấn Bính chủ tài lộc, Giáp long thì lấy Dần làm lộc, Ất long thì lấy Mão làm lộc. Phương này mà có sa cao sừng sững chủ đại quý.
Thực lộc sa: Lộc sa thì trước xem quân phong, Càn Đoài cắm Khảm ấy là tôn, Thìn Tốn tìm Càn ấy là chính, Khôn Ly lại hướng Tốn cung bàn. Muốn biết Khảm Cấn suy quẻ Khôn, Phúc đức 3 cung lại đáng quý. Nếu gặp loan phong nhọn mà đẹp, con cháu xe ngựa khắp triều môn.
Chính mã sa: Càn cung Giáp là chân lộc mã, cung Khôn tìm Ất thật là hay, Cấn từ trên Bính tìm vị trí. Nếu được song phong liền chẳng dứt, con cháu hai phủ mang ấn kim.
Phú quý sa: Tốn, Tân núi đẹp cao tầng mây, định chủ khoa danh xuất trạng nguyên. Nếu 2 phương Tốn, Tân ở Hợi sơn có sơn quý thì chủ về làm tướng. Tân sơn mà thấy kỳ phong thì chủ về xuất quan thượng thư. Sơn phong mà thấp nhỏ thì chủ về xuất văn nhân tú tài. Hợi sơn mà gặp Bính, Đinh phong;
Cấn sơn gặp Đinh, Tân phong thì chủ về xuất thần đồng, được làm tướng lại thọ cao. Cấn sơn gặp Bính, Canh, Đinh, Tân tú lệ thì chủ về được đại phú đại quý. Canh sơn mà phương Mão, Cấn có loan phong; Bính, Đinh sơn thấy phương Hợi, Cấn có loan phong, Cấn sơn thấy Đinh phong thì đó là sa chủ về giàu sang phát đạt, sông ở đó thì phú quý lại vượng đinh.
Vượng đinh sa: Cấn, Chấn, Khảm là tam nam. 3 phương này có loan phong thì chủ về vượng đinh. 3 phương Tốn, Ly, Đoài có loan phong thì gọi là nữ phong, chủ về xuất phụ nữ xinh đẹp, đảm đang.
Vượng tài sa: Cấn là kho tài bạch, còn được gọi là thiên lộc. Phương này nếu có sơn phong cao lớn, đầy đặn phương chính thì chủ về tài lộc phong hậu.
Quý nhân sa: 2 phương Tốn, Tân có núi cao gọi là Văn bút sa, chủ về người có tài văn chương cái thế, làm rạng rỡ tổ tông.
Ngư đại sa: 3 phương Canh, Dậu, Tân có sa thì gọi là ngư đại sa. Sa này nếu ở chỗ thủy khẩu là cát, nếu ở phương Dần, Giáp thì chủ về xuất tăng đạo.
Kiếm thương sa: 3 phong Canh, Dậu, Tân cùng nhô lên tú lệ đẹp đẽ lại phương chính thì chủ về xuất võ tướng.
Binh quyền sa: Chấn sơn thấy Canh phong, Cấn sơn thấy Đinh phong, Canh sơn thấy Mão phong thì chủ về xuất người nắm binh quyền.
Hoa cái phong: 3 phương Nhâm, Tý, Quý có núi nhô lên thì gọi là Hoa cái sa, chủ về xuất tăng ni.
Hách văn phong: Phương vị Bính, Đinh, Canh, Tân mà có sơn phong như bình phong thì chủ về phúc lành, không gặp tai họa.
Thôi quan sa: Bính, Đinh, Canh, Tân là dương, chủ về thăng quan cho nam giới. Tốn, Đoài, Cấn, Chấn là âm, chủ về thăng quan cho nữ. Phương này có sa đẹp đẽ thì chủ về thăng quan tiến chức nhanh.
Ngựa lên thềm ngọc: Càn là chuồng ngựa trời, là nơi nuôi ngựa. Ngọ là chính mã, cho nên Ngọ là kim mã, thiên mã. Nếu được Đoài sơn cao vút thì gọi đó là ngựa lên thềm ngọc, chủ đại quý.
Lộc mã củng hậu: Cấn, Bính là thiên lộc; Càn Ly là thiên mã. Phương này nếu có núi cao thì chủ về xuất quý nhân.
Ngựa lên thềm vua: Phương Tốn có mã, lại có thủy đến chầu thì chủ gần kề hầu cận bậc đế vương. Liêu công nói rằng: “Móng ngựa đạp lên sườn đồi, nước chảy thềm ngọc, như vậy sẽ xuất tú tài đến trạng nguyên”.
