THỦY PHÁP TAM NGUYÊN :TIÊU VONG, BẠI TUYỆT
Thủy pháp tam nguyên tính cho tọa : phạm nước chảy từ sau về trc( nếu sau trước 2 phương là tiên hậu thiên của nhau là tiêu vong – phá tiền tài ), còn nước từ trước chảy về sau là bại tuyệt – phá tiền tài !
– Tiên thiên Bát quái và Hậu thiên Bát quái đều được dùng để xác định sự cát hung của thủy pháp. Nhưng khi ứng dụng phải sử dụng phối hợp cả hai. Trước tiên phải nắm vững trong Tiên thiên Bát quái, thủy quản nhân đinh. Trong Hậu thiên Bát quái, thủy quản thê tài. Ghi nhớ để khi ứng dụng, lai thủy của Tiên thiên Bát quái không thể lưu nhập Hậu thiên, lai thủy của Hậu thiên Bát quái không thể lưu phá Tiên thiên.
– Nếu như lai thủy của Tiên thiên Bát quái chảy hướng về Hậu thiên gọi là “Tiên thiên phá Hậu thiên”, gọi là “tiêu thủy”, phạm vào nó chủ về khắc thê tổn tài, gia nghiệp dần dần suy thoái. Lai thủy của Hậu thiên Bát quái chảy về hướng Tiên thiên, gọi là Hậu thiên phá Tiên thiên, gọi là “vong thủy”, phạm vào nó chủ về nhân đinh bại tuyệt.
Cho dù là dương trạch hay âm trạch, gặp phải lai thủy Tiên thiên xung phá Hậu thiên hoặc lai thủy Hậu thiên xung phá Tiên thiên, đều gọi là “thủy tiêu vong bại tuyệt”. Phạm phải nó chủ về nhân đinh và tiền tài cùng tổn bại, thậm chí không có người nối dõi.
Quẻ Càn của Tiên thiên tọa ở phương vị Ly của Hậu thiên (Bính, Ngọ, Đinh), quẻ Càn của Hậu thiên tọa ở phương vị Cấn của Tiên thiên.
Quẻ Đoài của Tiên thiên tọa ở phương vị Tốn của Hậu thiên (Thìn, Tốn, Tỵ), quẻ Đoài của Hậu thiên tọa ở phương vị Khảm của Tiên thiên.
Quẻ Ly của Tiên thiên tọa ở phương vị Chấn của Hậu thiên (Giáp, Mão, Ất), quẻ Ly của Hậu thiên tọa ở phương vị Càn của Tiên thiên.
Quẻ Chấn của Tiên thiên tọa ở phương vị Cấn của Hậu thiên (Sửu, Cấn, Dần), quẻ Chấn của Hậu thiên tọa ở phương vị Ly của Tiên thiên.
Quẻ Khảm của Tiên thiên tọa ở phương vị Đoài của Hậu thiên (Canh, Dậu, Tân), quẻ Khảm Hậu thiên tọa ở phương vị Khôn của Tiên thiên.
Quẻ Cấn của Tiên thiên tọa ở phương vị Càn của Hậu thiên (Tuất, Càn, Hợi), quẻ Cấn Hậu thiên tọa ở phương vị Chấn của Tiên thiên.
Quẻ Khôn của Tiên thiên tọa ở phương vị Khảm của Hậu thiên (Nhâm, Tý, Quý), quẻ Khôn Hậu thiên tọa ở phương vị Tốn của Tiên thiên.
Ví dụ: Nhà của bạn tọa Bắc hướng Nam thuộc Khảm trạch. Trước tiên phải biết quẻ Khảm trong Tiên thiên Bát quái ở Đoài, trong Hậu thiên Bát quái ở Khôn. Giả sử phương Đoài có thủy chảy về vị trí Khôn, tức là Tiên thiên lưu phá Hậu thiên, gọi là “tiêu thủy”. Nếu vị trí Khôn có thủy chảy về phương Đoài, gọi là “vong thủy”. Gặp 2 thủy ở phương Đoài và phương Khôn lưu phá lẫn nhau, gọi là thủy “tiêu vong bại tuyệt”. Phạm phải chủ về vợ có tai nạn chảy máu. Lưu phá Hậu thiên chủ về nhiều bệnh. Lưu phá Tiên thiên chủ về nhân khẩu hao tổn. Những việc hung này phần lớn bất lợi đối với chi trưởng.
Ví dụ: Nhà bạn ở là Đoài trạch, Dậu sơn Mão hướng, tọa Tây hướng Đông. Chúng ta phải biết quẻ Đoài trong Tiên thiên Bát quái ở vị trí Tốn, trong Hậu thiên Bát quái ở vị trí Khảm. Nếu như thủy từ phương Tốn chảy qua phía trước sân nhập vào vị trí Khảm vị, gọi là Tiên thiên lưu phá Hậu thiên. Thủy như thế này gọi là “tiêu”. Hoặc giả sử lai thủy từ phương Khảm chảy qua trước sân nhập vào vị trí Tốn, gọi là Hậu thiên lưu phá Tiên thiên. Thủy như vậy gọi là “vong”. Bất luận Tiên thiên xung phá Hậu thiên hoặc Hậu thiên xung phá Tiên thiên, gọi chung là “thủy tiêu vong bại tuyệt”. Người xưa ca rằng: “Lưu phá Tiên thiên nhân đinh bại, lưu phá Hậu thiên đoạn tiền tài, tái kiến Thiên kiếp lai xung phá, gia nhân đa bệnh bất ly tai” (Lưu phá Tiên thiên, nhân khẩu hao tổn. Lưu phá Hậu thiên, tiền tài phá bại. Lại gặp Thiên kiếp đến xung phá, người trong nhà nhiều bệnh và không tránh khỏi tai ương.
Phép tắc của lai thủy trong Tiên thiên, Hậu thiên
– 3 sơn Bính, Ngọ, Đinh gặp lai thủy phương Giáp, Mão, Ất gọi là lai thủy Tiên thiên; Gặp lai thủy phương Tuất, Càn, Hợi gọi là lai thủy Hậu thiên.
– 3 sơn Thìn, Tốn, Tỵ gặp lai thủy phương Mùi, Khôn, Thân gọi là lai thủy Tiên thiên; Gặp lai thủy phương Canh, Dậu, Tân gọi là lai thủy Hậu thiên.
– 3 sơn Giáp, Mão, Ất gặp lai thủy phương Sửu, Cấn, Dần gọi là lai thủy Tiên thiên; Gặp lai thủy phương Bính, Ngọ, Đinh gọi là lai thủy Hậu thiên.
– 3 sơn Sửu, Cấn, Dần gặp lai thủy phương Tuất, Càn, Hợi gọi là lai thủy Tiên thiên; Gặp lai thủy phương Giáp, Mão, Ất gọi là lai thủy Hậu thiên.
– 3 sơn Nhâm, Tý, Quý gặp lai thủy phương Canh, Dậu, Tân gọi là lai thủy Tiên thiên; Gặp lai thủy phương Mùi, Khôn, Thân gọi là lai thủy Hậu thiên.
– 3 sơn Tuất, Càn, Hợi gặp lai thủy phương Bính, Ngọ, Đinh gọi là lai thủy Tiên thiên; Gặp lai thủy phương Sửu, Cấn, Dần gọi là lai thủy Hậu thiên.
– 3 sơn Canh, Dậu, Tân gặp lai thủy phương Thìn, Tốn, Tỵ gọi là lai thủy Tiên thiên; Gặp lai thủy phương Nhâm, Tý, Quý gọi là lai thủy Hậu thiên.
– 3 sơn Mùi, Khôn, Thân gặp lai thủy phương Nhâm, Tý, Quý gọi là lai thủy Tiên thiên; Gặp lai thủy phương Thìn, Tốn, Tỵ gọi là lai thủy Hậu thiên.
– Nói tóm lại, thu thủy Tiên thiên đến minh đường chủ về vượng nhân đinh. Nếu thủy tiên thiên vốn có dòng đến dài, dòng đi xa, chủ về nhân đinh hưng vượng, nhân khẩu tăng nhiều. Nếu như thủy từ phương vị Tiên thiên chảy đi, chủ về nhân đinh bại tuyệt, công xưởng không giữ được công nhân viên, khách hàng của công ty giảm thiểu. Thủy Hậu thiên chủ về tiền tài. Nếu như nguồn thủy của lai thủy Hậu thiên thông suốt, chủ về tài nguyên dồi dào, buôn bán làm ăn thịnh vượng, bất luận công ty, công xưởng hoặc một cá nhân đều phát tài. Nếu như thủy từ phương vị Hậu thiên chảy đi, chủ về hao tổn nhân đinh, suy bại tiền tài. Cho nên dòng đi và dòng đến của thủy Tiên thiên, Hậu thiên đối với nhân khẩu và tiền tài của người sống có quan hệ mật thiết, nhất định phải thận trọng.
