PHƯƠNG VỊ TỐT CHO ÂM TRẠCH.
. Tam cát, lục tú
Tam cát, lục tú là chỉ phương cát lợi ở phương vị Nạp Giáp của tọa sơn mỗi quẻ, là chỉ tinh phong của phương đó, cũng có khi chỉ phương vị Tham, Cự, Vũ của tọa sơn.
Ví dụ: Tọa sơn là quẻ Càn, lấy Càn làm phục vị. Hào thượng quẻ Càn biến thành quẻ Đoài, Đoài là vị trí Tham lang. Hào giữa quẻ Đoài biến thành quẻ Chấn, Chấn là Cự môn. Hào sơ quẻ Chấn biến thành Khôn, Khôn là Lộc tồn. Hào thượng quẻ Khôn biến thành Khảm, Khảm là vị trí Văn khúc. Hào thượng của Quẻ Khảm biến thành quẻ Tốn, Tốn là vị trí Liêm trinh. Hào giữa quẻ Tốn biến thành Cấn, Cấn là vị trí Vũ khúc. Hào sơ quẻ Cấn biến thành quẻ Ly, Ly là vị trí Phá quân, Hào giữa quẻ Ly biến lại trở về quẻ Càn ban đầu. Trong đó, phương Đoài, Chấn, Cấn là tam cát. Bởi vì, Đoài là vị trí Tham lang của quẻ Càn, Chấn là vị trí Cự môn của quẻ Càn, Cấn là vị trí Vũ khúc của quẻ Càn.
Càn sơn hoặc Càn long: Dậu, Mão, Cấn là tam cát. Bính, Canh, Đinh thêm tam cát là lục tú.
Khôn sơn hoặc Khôn long: Cấn, Tôn, Đoài là tam cát. Bính, Tân, Đinh thêm tam cát là lục tú.
Cấn sơn hoặc Cấn long: Khôn, Khảm, Càn là tam cát. Quý, Giáp, Ất thêm tam cát là lục tú.
Tốn sơn hoặc Tốn long: Tý, Ngọ, Khôn là tam cát. Quý, Nhâm, Ất thêm tam cát là lục tú.
Chấn sơn hoặc Chấn long: Càn, Ngọ, Tý là tam cát. Nhâm, Giáp, Quý thêm tam cát là lục tú.
Khảm sơn hoặc Khảm long: Cấn, Tốn, Mão là tam cát. Bính, Tân, Canh thêm tam cát là lục tú.
Ly sơn hoặc Ly long – Mão, Sơn, Tốn là tam cát. Đinh, Canh, Tân thêm tam cát là lục tú.
Tam cát, lục tú là 4 quẻ đại cát, được phiên xuất từ Địa mẫu cửu tinh phiên quái. Cho nên, người ta quen gọi tam cát, lục tú là quẻ “tam cát”. Thiên can được nạp trong quẻ tam cát được gọi là “lục tú”. Lấy quẻ Khôn làm ví dụ: Căn nhà tọa Khôn sơn Cấn hướng. Long từ phương Khôn đến, tức là từ Khôn khởi phục vị. Quẻ Khôn lấy 3 phương Cấn, Tốn, Đoài làm phương vị đại cát. Cho nên, quẻ Khôn gặp 3 phương Cấn, Tốn, Đoài có sơn phong tú lệ là tam cát. Cấn nạp Bính, Tốn nạp Tân, Đoài nạp Đinh, cho nên 3 phương Bính, Đinh, Tân gặp sơn phong tú lệ là lục tú.
Tam cát, lục tú không có vị trí định sẵn. Mỗi một quẻ bản thân có tam cát, lục tú. Phương pháp suy đoán đều dựa vào sự phiên xuất của quẻ Địa mẫu.
Tam cát lục tú” chính là sa pháp của cửu tinh. 24 sơn long đều có tam cát lục tú, phương pháp xác định là “âm dùng dương triều, dương dùng âm triều”. Lấy Địa bàn chính châm để xác định tọa sơn và lai long. Sau đó lại dùng phiên quái chưởng quyết lấy cung đối diện của tọa sơn hoặc lai long để khởi Tham lang, dựa theo thứ tự sẽ là Cự môn, Lộc tồn, Văn khúc, Liêm trinh, Vũ khúc, Phá quân, Phù Bật, cuối cùng lại trở về bản cung.
Sau khi xác định được tọa sơn hoặc lai long (Địa bàn chính châm), bất luận là dương trạch hay âm trạch phải quan sát hình thế sơn phong ở xung quanh, xem sơn phong cao lớn nằm ở phương vị nào, rồi dùng Nhân bàn trung châm để xác định. Sau đó, lại lấy quái vị sở thuộc tọa sơn hoặc lai long khởi hào biến, dựa theo thứ tự là Tham, Cự, Lộc, Văn, Liêm, Vũ, Phá, Phụ để biến quẻ. Lấy 3 phương vị Tham lang, Cự môn, Vũ khúc làm cát tinh, sơn phong ở vị trí cát tinh phải cao lớn, đẹp đẽ, đầy đặn là tốt nhất. Còn sa phong của các phương vị còn lại là Lộc tồn, Văn khúc, Liêm trinh và Phá quân nên thấp bé mới tốt. Khi định huyệt ở phương vị tam cát lục tú, thế núi đẹp đẽ là tốt. Trong đó được 1 hoặc 2 của tam cát, có thể cắm huyệt ở đó.
Ví dụ: Tọa sơn là quẻ Khảm, lấy Khảm làm Phục vị, lấy đó để khởi Phù Bật. Hào thượng của quẻ Khảm biến thành Tốn, Tốn là vị trí Tham lang của quẻ Khảm. Quẻ Tốn lại biến hào giữa thành quẻ Cấn, Cấn là Cự Môn của quẻ Khảm. Quẻ Cấn biến hào sơ thành quẻ Ly, Ly là vị trí họa hại của quẻ Khảm. Quẻ Ly biến hào giữa thành Càn, Càn là vị trí Văn khúc của quẻ Khảm. Hào thượng quẻ Càn biến thành quẻ Đoài, Đoài là vị trí Liêm trinh của quẻ Khảm. Quẻ Đoài biến hào giữa thành Chấn, Chấn là vị trí Vũ khúc của quẻ Khảm. Quẻ Chấn biến hào sơ thành quẻ Khôn, Khôn là vị trí Phá quân của quẻ Khảm. Quẻ Khôn biến hào giữa lại trở về quẻ Khảm ban đầu.
Quẻ Khảm nạp 4 sơn Quý, Thân, Tý, Thìn. Bởi vậy, 4 phương Quý, Thân, Tý, Thìn của quẻ Khảm thấy có sơn phong cao lớn, đẹp đẽ gọi là tam cát. Tốn nạp Tân, Cấn nạp Bính, Chấn nạp Canh, cho nên phương Tân, Bính, Canh có sơn phong tú lệ được gọi là lục tú.
