BÀN VỀ BỔ LONG (Trong Bổ Long – Phù Sơn -Tương chủ)
Bài viết: An Khang .
– Dùng luận xét phương vị, biết hành của “Long nhập thủ” để phối hướng và dùng tam hợp cục để bổ long. Ngoài ra còn nhiều cách dùng khác. Ví dụ: gặp thế đất Cấn long, vậy biết hành của nó là hành thổ. Khi xác lập hướng phải dùng các hướng hỏa như Bính, Đinh…vv để hỗ trợ cho long, khi chọn thời gian (năm tháng ngày giờ) cho Cấn long phải dùng “ấn cục” hỏa tam hợp Dần – Ngọ – Tuất; hay dùng “tài cục” thủy tam hợp Thân – Tý – Thìn để bổ long. Nói rõ hơn là dùng năm tháng ngày giờ đều có 3 chi của cục muốn bổ. Ví dụ: dùng cục ấn thì chọn năm Dần Ngọ Tuất, tháng Dần Ngọ Tuất, ngày Dần Ngọ Tuất, giờ Dần Ngọ Tuất. Công thức dùng cục nhất khí để bổ long không dính dáng gì tới nạp âm ngũ hành. Đây là nói về cách dùng địa chi. Dùng thiên can: ta thấy Cấn long có nạp giáp là Bính, vậy khi dùng năm tháng ngày giờ phải tận dụng thêm can Bính. Ấn cục hỏa phải tận dụng Bính Dần, Bính Ngọ, Bính Tuất, còn ấn tài cục phải tận dụng Bính Thân, Bính Tý, Bính Thìn.
Khi muốn bổ long người ta dùng 3 cục:
1. Ấn cục: là tam hợp cục sinh ra hành của Long
2. Vượng cục: là tam hợp cục đồng hành với Long
3. Tài cục: là tam hợp cục có ngũ hành bị Long khắc chế
Tuy nhiên, trong ví dụ Cấn long thuộc thổ, mà hành thổ không có riêng tam hợp cục nên không bàn tới Vượng cục.
Ví dụ: gặp phải khu đất là “Khôn long”, ta biết Khôn trong chính ngũ hành 24 sơn thuộc hành thổ, ta không cần biết ngôi mộ đó có hướng thế nào, ta cứ dựa vào đốt “Long nhập thủ” là Khôn long có hành thổ để bổ long:
• dụng cục Ấn: sử dụng năm/tháng/ngày/giờ Dần/Ngọ/Tuất
• dụng cục Tài: sử dụng năm/tháng/ngày/giờ Thân/Tý/Thìn
• dụng cục vượng: hành thổ không có cục vượng.
Nguyên tắc dùng bát quái tiên thiên phối với 10 can.
• Càn 1: nạp giáp cặp can đầu Giáp Ất, nhưng càn là dương quái nên nạp can Giáp dương.
• Đoài 2: phối với cặp thiên can thứ 2 Bính Đinh, nhưng Đoài là quẻ âm nên chỉ nạp được can Đinh âm.
• Ly 3: phối hợp với cặp thiên can thứ 3 là Mậu Kỷ, nhưng Ly là quẻ âm nên chỉ nạp được can kỷ.
• Chấn 4: phối hợp với cặp thiên can thứ 4 là Canh Tân, nhưng Chấn là quẻ dương nên chỉ nạp can Canh.
• Quẻ khôn đối quẻ Càn, mà Càn đã nạp Giáp thì còn lại Ất nạp vào Khôn
• Cấn đối quẻ Đoài: mà Đoài đã nạp Đinh nên Cấn nạp Bính
• Khảm đối quẻ Ly: mà Ly đã nạp can Kỷ nên Khảm nạp can Mậu
• Tốn đối quẻ Chấn: Chấn đã nạp can Canh nên Tốn nạp can Tân.
Bát quái nạp giáp:
• Càn quái nạp can Giáp – Nhâm
• Khảm quái nạp can Mậu
• Cấn quái nạp can Bính
• Chấn quái nạp can Canh
• Tốn quái nạp can Tân
• Ly quái nạp can Kỷ
• Khôn quái nạp can Ất – Quý
• Đoài quái nạp can Đinh.
