BẠT SA NHÂN BÀN PHÁP

Tháng 7 12, 2026

Mối quan hệ giữa 24 sơn Nhân bàn với ngũ hành 28 vì tinh tú

Lại Công Ngũ hành tướng trạch pháp còn gọi là Nhị thập bát tú bát sa pháp, là do tiên sư phong thủy Lại Bố Y sáng tạo ra. Ngũ hành được sử dụng ở đây khác với Chính Ngũ hành được chúng ta sử dụng thường ngày, nhất định không được nhầm lẫn. Lại Công Ngũ hành là Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Giáp, Bính, Canh, Nhâm thuộc Hỏa; Càn, Khôn, cấn, Tốn thuộc Mộc; Ất, Tân, Đinh, Quý thuộc Thổ; Dần, Thân, Tỵ, Hợi thuộc Thủy; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thuộc Kim.

24 sơn Trung châm phối hợp sử dụng với sa thể xung quanh nhà ở. Phương pháp sử dụng của nó đơn giản, lấy tọa sơn làm chủ, phổi hợp tương hỗ với sơn phong hoặc những vật thể cao lớn ở xung quanh, lấy Ngũ hành sinh khắc luận cát hung.

Phương pháp sử dụng bạt sa:

Lấy tọa sơn làm bản thân ta, sơn phong hoặc vật thể xung quanh là khách, dựa vào Ngũ hành sinh khắc giữa chủ và khách luận cát hung như sau:

Sa sinh ra ta là sa phụ mẫu – Lợi cho khoa giáp và thi cử. Sa sinh khí là cát lợi.

Sa hài hòa là sa vượng khí – Nhân đinh và tiền tài đều vượng. Sa vượng khí là cát lợi.

Sa ta khắc là sa tài khí – Tuy tiền tài vượng nhưng vất vả. Nô sa là nửa cát.

Sa ta sinh là sa tử tôn – Đã tiêu hao lại phóng đãng. Tiết sa là hung họa.

Sa khắc ta là sa quan quỷ – Nhân đinh và tiền tài đều bại. Sát sa là hung họa.

Phương pháp và trình tự sử dụng 24 sơn Nhân bàn:

  1. Dùng Nhân bàn trung châm xác định tọa hướng của 24 sơn, coi Ngũ hành của tọa sơn là ta, đối chiếu với sơn loan xung quanh nhà ở được trình bày trong ca quyết ở trên, sau đó căn cứ theo mức độ sinh khắc của Ngũ hành định cát hung.

2.Coi phương hưóng của 24 sơn trên la bàn là ta, Ngũ hành của sơn phong đối diện là khách. Nếu như Ngũ hành của tọa sơn này sinh, trợ giúp ta là cát lợi, Ngũ hành của tọa sơn khắc tiết ta là hung họa.

Lấy Lại Công Ngũ hành của 28 vì tinh tú làm chủ, lại lấy Lại Công Ngũ hành của sa thể khách. Xem khách đến sinh chủ hay là khắc chủ, coi sinh trợ chủ là cát lợi, khắc tiết chủ là hung họa. Khắc tiết chủ là sát, chủ khắc là tài, sinh chủ là ấn, chủ sinh là tiết. Nếu tỷ hòa, mọi việc đều cát lợi. Quẻ gặp phương sát nhiều việc hung họa, nên đề phòng.

Nhân bàn diễn thành căn cứ vào thuộc tính Ngũ hành của 28 vì tinh tú. Mối quan hệ giữa 28 vì tinh tú với 24 sơn không tách rời nhau. 28 vì tinh tú khớp với 24 sơn, mỗi sơn khớp với 1 sao, còn lại 4 sao Trương nguyệt lộc, Tâm nguyệt hồ, Nguy nguyệt yến, Tất nguyệt. Sau đó đem sao Trương nguyệt lộc cho vào sao Tinh phương Nam, đem sao Tâm nguyệt hồ cho vào sao Phòng phương Đông, đem sao Nguy nguyệt yến cho vào sao Hư phương Bắc, đem sao Tất nguyệt cho vào sao Mão phương Tây. Nói một cách đơn giản, đem Tứ nguyệt khắc vào Tứ nhật Tý, Ngọ, Mão, Dậu, hình thành tổ hợp 4 sao Tâm Vĩ, Hư Nguy, Mão Tất, Trương Tinh, phân ra 4 phương vị, mỗi 1 phương vị phân bố 7 sao, cho nên gọi là “Thất chính, Tứ dư” Căn cứ theo thứ tự sắp xếp thành:

Giác Cang Đê Phòng Tâm Vĩ Cơ, vi Đông phương Thanh Long thất tú.

Đẩu Ngưu Nữ Hư Nguy Thất Bích, vi Bắc phương Huyền Vũ thất tú.

Khuê Lâu Vị Mão Tất Chủy Sâm, vi Tây phương Bạch Hổ thất tú.

Tỉnh Quỷ Liễu Tình Trương Dực Chẩn, vi Nam phương Chu Tước thất tú. (Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ là 7 sao Thanh Long phương Đông.

Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích là 7 sao Huyền Vũ phương Bắc.

Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm là 7 sao Bạch Hổ phương Tây.

Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn là 7 sao Chu Tước phương Nam).

Người xưa căn cứ vào lý luận của những sao này để sáng chế ra Nhân bàn, đem 28 vì tinh tú chia ra cân bằng với 24 sơn, dùng Ngũ hành của thiên tinh và tọa sơn luận sinh khắc để xác định cát hung của sa. Vì vậy, đã sáng tạo ra một căn cứ nữa để chọn đất đặt huyệt.

Sa là chỉ sơn phong, cây cối hoặc tất thảy những vật, những công trình cao lớn ỏ xung quanh âm trạch hay dương trạch.

24 sơn là chỉ 24 phương hưỏng xung quanh dương trạch hay âm trạch, gọi chung là tọa sơn.