- Ngoại bàn
Cấu tạo của la bàn là ngoài vuông trong tròn. Phần ngoại bàn là bộ phận bao quanh la bàn, có tác dụng như một khay đỡ bảo vệ nội bàn. Trên ngoại bàn không có chữ, đặc điểm này khác với Thức bàn đời nhà Hán. Một số la bàn không có phần ngoại bàn, nhất là những chiếc la bàn được sản xuất trong nội địa nước Trung Quốc. Phần lớn những chiếc la bàn có ngoại bàn, đều được sản xuất từ Hồng Kông và Đài Loan.
- Nội bàn

Nội bàn là bộ phận đặt bên trong ngoại bàn. Khi sử dụng, bạn có thể dùng ngón tay chuyển động. Những tư liệu chữ khắc trên mỗi tầng của mặt nội bàn không giống nhau. Khi ứng dụng cần chỉnh cho kim nam châm và đường Thiên tâm thập đạo của nội bàn được trùng khít với nhau. Bạn có thể căn cứ vào đó để tìm ra được tọa sơn triều hướng của vật kiến trúc.
3.Thiên trì
Thiên trì dùng để chỉ khoảng trũng ở trung tâm la bàn, là nơi đặt kim nam châm. Với những chiếc la bàn thời kỳ đầu, trong khoảng trũng này người ta thường đổ nước vào để nổi kim nam châm. Người xưa cho rằng trời hình tròn, vì vậy gọi khoảng trũng này là “Thiên trì’’.
- Thiên tâm thập đạo
Đường Thiên tâm thập đạo còn được gọi là đường Thiên đạo, là chỉ 2 sợi dây màu đỏ vuông góc với nhau ngay tại điểm trung tâm của Thiên trì, tạo thành hình chữ thập. Điểm đầu và điểm cuối của 2 đường dây này được buộc cố định ở phần ngoại bàn. Khi xoay phần nội bàn, chúng ta có thể dựa vào đường Thiên tâm để xác định 24 sơn.
ở giữa la bàn có bố trí một khoảng trũng để đặt kim nam châm, được gọi là “Thiên trì”.
Ngoại bàn của la bàn có sợi dây giao với nhau thành hình chữ thập gọi là “Thiên tâm thập đạo”.
La kinh ẩn chứa cả trời đất, trên nắm giữ kinh độ cùa các tinh tượng, dưới xét độ cao thấp của núi sông, lấy hình ứng khí, để tạo thành sự hợp lý. Không có cái gì là không bao la vạn tượng. Dương trạch và âm trạch từ đó mới được cát lợi, giống như dệt vải, phải có sợi dọc mới có thể dệt thành nếp, cho nên gọi là la kinh.
Giếng ở giữa gọi là Thiên trì, là Thái cực cùa la kinh, ở bên trong chứa kim và thủy, chúng động tĩnh tương hỗ nhau. Đó chính là nguồn của lý khí. Trời sinh thủy, thủy là mẹ của khí, thủy đọng ở trong ao phân dòng chảy, bờ bên phải từ Ngọ đến Nhâm thuộc âm, thể chất của Kim dương kiên cường, có thể cắt đứt. Hơn nữa được sĩ khí nam châm mà dưỡng thành Thổ, ở vị trí trung ương của Ngũ hành. Cho nên khi kim nam châm chạm phải thì mặt nước động, tĩnh thì ở giữa, khiến cho Lưỡng nghi động mà Tứ tượng phân, Bát quái định mà đại nghiệp thành, ngũ khí xác định mà tam tài hiệu dụng, trên dưới hài hòa, vận động không dừng là dựa vào đây.
– Khi đo hưóng, dao động kim chỉ vài lần, xem xét tình hình dao động của kim và quan hệ giữa kim và đường Tý Ngọ, từ đó phán đoán cát hung. Phong tl’..uỷ khái quát sự dao động của kim và quan hệ với đường Tý Ngọ lúc đó thành 8 nguyên tắc, gọi là “Bát kì”: Đường, Đoài, Khi, Thám, Trầm, Toại, Tắc, Chính.
Đường: kim dao động bất định, không quay trở về trung tuyến cho biết ở trong chỗ đó có đồ cổ, tạp vật.
Đoài: Kim chỉ ỗ trạng thái nằm ngang, không trồ về đường Tý Ngọ, cho biết chỗ đồ có vật kim loại.
Khi: Kim chỉ chuyển động không ổn định, cho biết chỗ đó có vật lạ.
Thám: Kim chỉ nửa chìm nửa nổi, trên không nổi trên mặt, dưới không chìm xuống đáy, hoặc một đầu chìm một đầu nổi, cũng cho biết chỗ đó có vật lạ.
Trầm: Kim chỉ chìm ở đáy, cho biết chỗ đó có vật bằng đồng.
Toại: Kim chỉ nổi và chuyển động, cho biết chỗ đó có vật lạ.
Tắc: Kim chỉ lệch đông hoặc tây, không trở về đưòng chính giữa, cho biết dưới đất có vật lạ.
Chính: Kim chỉ trùng vói đường Tý Ngọ.
– Kim nam châm rất dễ bị ảnh hưởng của sắt, dòng điện. Nếu xung quanh có những thứ này thì sẽ không thể xác định được chính xác cực từ Bắc. Khi đo đạc ở trong nhà thì phải đặt trên chiếc ghế gỗ để đo, đồng thời phải để cách xa ti vi, máy thu thanh, lò sưởi…
– Thêm nữa khi đó phương Bắc trên đất, đầu tiên đặt một miếng gỗ trên đất tạo thành một chiếc bục cao khoảng 30cm, trên mặt phủ giấy dày để cho bằng phang, sau đó đặt nam châm lên trên để đo là được.
